MỤC TIÊU CỦA CÔNG TÁC ĐẤU THẦU
29.07.2010 14:37
Tất cả các hệ thống đấu thầu mua sắm công trong một nền kinh tế hiện đại đều nhằm đạt được tất cả hoặc hầu hết các mục tiêu chung sau đây
Các mục tiêu căn bản, bao gồm:
Kinh tế
Chỉ
tiêu kinh tế được tập trung chủ yếu vào ”giá cả” nhưng cũng bao gồm các
chỉ tiêu khác mà mang đến các lợi ích kinh tế đối với các chủ thể tham
gia vào hợp đồng, cụ thể như sau:
Phù hợp với mục tiêu (cụ thể là Chất lượng);
Đáp ứng tiến độ và khả năng sẵn có của hàng hóa, dịch vụ; khả năng sẵn sàng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ xây dựng;
Chi phí cả đời dự án (ví dụ chi phí vận hành, bảo dưỡng)
Chi phí phù hợp (ví dụ vận tải và lưu kho);
Quản lý chi phí đối với các hoạt động đấu thầu.
Hầu
hết các hợp đồng kinh tế không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với giá cả
rẻ nhất. Giá trị tốt nhất của đồng tiền (value for money- VFM) cần đạt
được các mục tiêu kinh tế và có thể được tổng hợp theo "5 Đúng” (Five rights) sau đây:
"Đúng số lượng đối với hàng hóa, Đúng con người đối với tư vấn và xây lắp”
Đúng chất lượng;
Đúng giá cả;
Đúng địa điểm;
Đúng thời gian (tiến độ).
Hiệu quả
Hiệu
quả của hoạt động đấu thầu mua sắm công với nghĩa một hệ thống được vận
hành đúng cách, giảm thiểu thủ tục hành chính nhưng vẫn đạt được các
yêu cầu cơ bản của một gói thầu là các hàng hóa, dịch vụ được mua sắm và
các công trình được xây dựng.
Công khai:
Một
hệ thống công khai mang đến cơ hội công bằng cho tất cả các nhà thầu
hợp lệ trong việc cạnh tranh để cung cấp hàng hóa, công trình và dịch
vụ.
Minh bạch:
Một
hệ thống minh bạch có các quy định và cơ chế rõ ràng để đảm bảo tuân
thủ đúng các quy định đó. Các quy định về cạnh tranh được biết trước và
đưa ra một cách rõ ràng để tạo thuận lợi cho việc thanh tra của các nhà
kiểm toán công và các cơ quan liên quan, như trong trường hợp một nhà
thầu không trúng thầu. Sự minh bạch khuyến khích sự đóng thuế tự nguyện
của các bên tham gia vào hệ thống đấu thầu mua sắm công.
Các mục tiêu khác của công tác đấu thầu
Hệ
thống đấu thầu mua sắm công ở nhiều các quốc gia thường được sử dụng để
thực hiện các mục tiêu riêng của chính phủ các nước. Các mục tiêu đó có
thể bao gồm:
Thúc đẩy công nghiệp trong nước và giải quyết việc làm;
Bảo đảm cho các vấn đề an ninh quốc gia; Thực hiện các phúc lợi xã hội, chính sách lương tối thiểu và loại trừ việc sử dụng lao động trẻ em.
Các mục tiêu cơ bản của công tác đấu thầu của Việt Nam
Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu
Một
trong những yếu tố đạt được hiệu quả của công tác đấu thầu là phải bảo
đảm được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Trong hoạt động đấu
thầu nói chung và công tác đấu thầu của Việt Nam nói riêng, mục tiêu
cạnh tranh đang ngày càng được tăng cường
.
Có cạnh tranh thì mới có động lực để sáng tạo, cải tiến, kích thích
người mua (BMT) đưa ra các yêu cầu phù hợp (thể hiện trong HSMT) và
người bán (nhà thầu) cạnh tranh với nhau để giành được hợp đồng (bán
được hàng) với giá bán cạnh tranh song vẫn bảo đảm chất lượng của hàng
hoá, công trình, dịch vụ. Một nguyên tắc cơ bản để bảo đảm được cạnh
tranh trong đấu thầu đó là việc tạo ra sự ”mâu thuẫn lợi ích” hay ”xung
đột lợi ích”. Xung đột lợi ích trong đấu thầu có thể hiểu một cách nôm
na rằng CĐT, BMT luôn mong muốn ”nhanh, bền, tốt, rẻ” trong khi đó, nhà
thầu thì luôn muốn "làm ít, hưởng nhiều” và có nhiều hợp đồng. Tuy vậy,
do hoạt động đấu thầu là việc chi dùng tiền nhà nước nên việc mong muốn
của các chủ thể tuy là chính đáng song không thể tuỳ tiện mà cần theo
quy định. Như vậy, khi có sự xung đột lợi ích giữa các bên sẽ tạo ra
động lực cạnh tranh giữa CĐT, BMT và các nhà thầu để đạt được sự cân
bằng về lợi ích thì cuộc đấu thầu sẽ diễn ra và hàng hoá, dịch vụ, công
trình được cung cấp sẽ bảo đảm về chất lượng. Bên cạnh đó, giữa các nhà
thầu cũng phải có sự cạnh tranh để giành lấy được hợp đồng và đó sẽ là
điều kiện để kích thích các nhà thầu phát huy sáng tạo, cải tiến biện
pháp thi công, cải tiến công nghệ...
Để
thực hiện mục tiêu này, BMT phải tạo mọi điều kiện để các nhà thầu có
cơ hội tham dự đấu thầu. Điều này được thể hiện trên nhiều khía cạnh
được đổi mới trong Luật Đấu thầu so với QCĐT trước đây, thể hiện:
Ngay
từ giai đoạn lập và phê duyệt KHĐT, việc phân chia công việc phải thực
hiện đấu thầu hành các gói thầu đã phải tính đến việc tăng khả năng cạnh
tranh (Điều 6 và Điều 18 của Luật Đấu thầu);
Thông
tin về đấu thầu, thông báo mời thầu phải được đăng tải trên tờ báo về
đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý Nhà
nước về đấu thầu (Điều 5 Luật Đấu thầu);
Thời
gian phát hành HSMT cho các nhà thầu được kéo dài tới trước thời điểm
đóng thầu (Điều 16, và Điều 26 Nghị định 111/CP) để nhiều nhà thầu có cơ
hội tham gia dự thầu.
Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng tiền của Nhà nước
Việc
mua sắm bằng nguồn vốn nhà nước (mua sắm công) cần phải được quản lý
thống nhất, tránh việc mỗi nơi lại theo những chỉ đạo, hướng dẫn khác
nhau, thậm chí trái ngược nhau. Nhìn chung việc tổ chức đấu thầu ở Việt
Nam thời gian qua đảm bảo thực hiện theo luật pháp của Nhà nước. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy, việc tuân thủ luật pháp còn mang nặng tính hình
thức. Điều đó có nghĩa là chúng ta đã có quy định, người thực hiện tuân
thủ một cách nghiêm túc, nhưng trên thực tế rất nhiều hoạt động không
diễn ra công khai (như thông đồng, dàn xếp, móc nối, quân xanh quân
đỏ,...) để “lách Luật.” Do vậy, ngoài việc hiểu Luật, tuân
thủ Luật Đấu thầu, điều quan trọng là cần phải tăng cường thanh tra các
hoạt động đấu thầu và xử lý các vi phạm pháp luật về đấu thầu.
Để bảo đảm thống nhất quản lý việc chi tiêu, sử dụng vốn nhà nước thì hoạt động đấu thầu cần bảo đảm như sau:
Có
một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, tránh sự chồng
chéo, mâu thuẫn. Để làm được điều này cần có sự chỉ đạo thống nhất từ
các cấp cao nhất, tiếp đến là sự đồng thuận, thống nhất của các Bộ,
ngành, địa phương, tránh lợi ích cục bộ- không vì lợi ích toàn cục, lợi
ích của người dân.
Hoạt
động đấu thầu không mang tính đặc thù theo ngành mà cần hiểu các ngành
đều có đặc thù về tính kỹ thuật chuyên biệt để phân biệt ngành này với
ngành khác. Vì vậy, khi thực hiện các gói thầu của các ngành khác nhau
bao giờ cũng phải quan tâm tới các yếu tố kỹ thuật chuyên biệt và điều
đó đòi hỏi nhà thầu phải có năng lực, kinh nghiệm phù hợp. Các yếu tố
khác biệt đó đều phải được thể hiện trong HSMT (cụ thể ở phần yêu cầu kỹ
thuật, TCĐG). Như vậy, các gói thầu khác nhau (kể cả cùng ngành, cùng
dự án nhưng khác nhau về quy mô) sẽ có HSMT khác nhau chứ không phải có
quy định khác nhau cho từng ngành hay cụ thể hơn là từng gói thầu. Chính
vì lẽ đó, trong đấu thầu các trình tự thực hiện là như nhau, không phải
vì đặc thù của từng ngành mà dẫn tới trình tự thực hiện khác nhau. Tuy
nhiên, hiện tại một số tổ chức, cá nhân vẫn cho rằng có đặc thù về đấu
thầu trong ngành mình để ”vận dụng” hướng dẫn quy định đấu thầu riêng
cho ngành mình không theo quy định chung, không phù hợp với thông lệ
quốc tế. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực tới tính thống nhất quản lý
chi tiêu, sử dụng tiền nhà nước.
Công khai, minh bạch trong đấu thầu
Công khai, minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa là một trong những yêu cầu cần quán triệt.
Công
khai trong đấu thầu có thể hiểu là sự không ”che đậy, dấu giếm”, không
bí mật vì lợi ích của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó mà cần thể hiện,
bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người liên quan hoặc
có quan tâm được biết.
Nội
dung công khai cần thể hiện trên khía cạnh thông tin, bao gồm các yêu
cầu về gói thầu được thể hiện trong HSMT bảo đảm thể hiện rõ ràng, dễ
hiểu, tránh đa nghĩa. Theo đó, tất cả những nội dung trong HSMT mới được
coi là yêu cầu, ngoài HSMT không thể được coi là yêu cầu và nhà thầu
không bị bắt buộc thực hiện các nội dung công việc ngoài HSMT. Kể cả
TCĐG (tổng hợp đến chi tiết) đều phải được thể hiện rõ ràng, minh bạch
trong HSMT, quá trình xét thầu không được thêm bớt, bổ sung.
Các
thông tin liên quan tới việc tham dự thầu, tổ chức các cuộc thầu, thông
tin về dự án, thông tin về trao thầu... đều phải được thông báo công
khai rộng rãi theo quy định.
Đảm bảo công bằng trong đấu thầu
Đây
là mục tiêu rất quan trọng trong đấu thầu. Trong toàn bộ quá trình thực
hiện Luật Đấu thầu, phải hết sức tôn trọng quyền lợi của các bên có
liên quan. Mọi thành viên từ chủ đầu tư đến các nhà thầu, các tổ chức tư
vấn được thuê thực hiện một phần công việc của đấu thầu đều bình đẳng
với nhau trước pháp luật. Mỗi bên có quyền và trách nhiệm được quy định.
Chủ đầu tư không được phép cho rằng mình là người có quyền cao nhất
muốn làm gì thì làm, muốn cho ai trúng thầu thì cho. Nhà thầu không được
lợi dụng quan hệ thân thiết, hoặc những tác động vật chất đối với các
thành viên tổ chuyên gia đấu thầu để làm sai lệch KQĐT theo hướng có lợi
cho mình.
Tính
công bằng trong đấu thầu thể hiện rằng các chủ thể tham gia đều phải
thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Cụ thể hơn là người
có thẩm quyền phê duyệt các nội dung quan trọng trong đấu thầu phải thực
hiện theo quy định mà không thể dùng ảnh hưởng cá nhân để phê duyệt tạo
thuận lợi cho một hoặc một số cá nhân, tổ chức có lợi ích liên quan.
Còn đối với chủ đầu tư phải có trách nhiệm lập HSMT bảo đảm công bằng,
không được tạo lợi thế cho một hoặc một số cá nhân, hạn chế sự tham gia
của các nhà thầu khác. Khi HSMT đã được phê duyệt thì CĐT, BMT, tổ
chuyên gia phải thực hiện theo đúng các nội dung nêu trong HSMT, không
được thiên vị, đối xử bất công với bất kỳ nhà thầu nào. Ngoài ra, mọi
thông tin liên quan đến quá trình tổ chức đấu thầu đều phải được công
khai theo quy định đến tất các nhà thầu để có cơ hội tiếp cận như nhau
trong quá trình tham gia đấu thầu.
Bảo đảm hiệu quả của công tác đấu thầu
Hiệu
quả của công tác đấu thầu chính là việc sử dụng một cách có hiệu nguồn
tiền của Nhà nước. Việc sử dụng các nguồn tiền của Nhà nước có thể mang
lại hiệu quả ngắn hạn cho dự án và hiệu quả dài hạn về kinh tế - xã hội.
Hiệu
quả ngắn hạn là các gói thầu đều được thực hiện bảo đảm chất lượng
trong phạm vi nguồn ngân sách dự kiến sẽ bảo đảm được tính khả của dự
án.
Hiệu
quả dài hạn về mặt kinh tế có thể dễ dàng nhìn nhận và đánh giá thông
qua chất lượng hàng hoá, công trình, dịch vụ ứng với số tiền bỏ ra và
chính các công trình, nhà máy, dịch vụ, các chính sách được tạo lập...
sẽ có tác động tạo ra các nguồn thu mới, các giá trị thặng dư cho đất
nước. Hiệu quả xã hội có thể nhìn nhận qua các khía cạnh như tạo thêm
nhiều công ăn việc làm, nâng cao mức sống dân cư, tạo diện mạo mới cho
bộ mặt kinh tế của đất nước thông qua các công trình kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội được nâng cấp, cải thiện sẽ là những động lực để thu hút
đầu tư nước ngoài, tạo môi trường thông thoáng cho các hoạt động đầu tư-
kinh doanh.
Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu
Mục
tiêu tiếp theo của đấu thầu là loại trừ tham nhũng. Đây là mục tiêu vừa
có tính lâu dài, vừa có tính cấp bách trước mắt vì Việt nam đã ký vào
công ước quốc tế về chống tham nhũng. Có thể nói rằng, tham nhũng là một
trong những căn bệnh dễ có nguy cơ nảy sinh trong quá trình mua sắm
công vì công quỹ, tài sản là của Nhà nước, của chung, thuộc sở hữu toàn
dân, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng giao thông, lĩnh vực mua
sắm công có lượng vốn đầu tư thường rất lớn.
Tham nhũng có thể xẩy ra trong đấu thầu dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể kể đến các hành vi tham nhũng như:
Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn được giao, cố ý làm trái pháp luật dẫn đến có
hành động sai trong việc quyết định trúng thầu, ký hợp đồng để được
hưởng bổng lộc từ nhà thầu;
Nhũng
nhiễu, đòi hỏi các thứ có giá trị từ tổ chức, cá nhân có liên quan đến
quá trình đấu thầu, và do đó có hành động làm sai lệch KQĐT;
Rút
ruột công trình, sử dụng các vật tư, nguyên liệu không đúng với cam kết
trong HSDT và trong hợp đồng đã ký kết làm giảm chất lượng, tuổi thọ
của công trình...
Để thực hiện mục tiêu loại trừ tham nhũng này, công tác đấu thầu cần phải:
Thứ nhất, công khai các thông tin về đấu thầu, các yêu cầu, điều kiện, TCĐG HSDT trong HSMT;
Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về đấu thầu nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi tham nhũng;
Thứ ba, xử lý nghiêm theo đúng quy định của luật pháp những hành vi tham nhũng.
|