Nhân loại sắp sửa giã từ năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai để bước vào thiên niên kỷ mới. Một thiên niên kỷ sẽ chứng kiến nhiều biến động dữ dội, mang tính chất toàn cầu mà các điều kiện và tiền đề đã được chuẩn bị từ những năm cuối của thiên niên kỷ trước đó.
Đó là những biến đổi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học, môi trường sống .. Những biến đổi này vừa tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũng vừa đặt ra những thách thức to lớn về nhiều mặt cho tất cả các nước.
Trong phạm vi bài này, tôi
chỉ nói đến một thách thức to lớn – đó là khủng sinh thái trên phạm vi toàn cầu.
Môi trường sinh thái là một
mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không
khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu. Sự tương tác hoà đồng giữa các
hệ thống của thiên nhiên tạo ra môi trường tương đối ổn định. Sự rối loạn bất
ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Con
người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên. Hoạt động
của con người và xã hội được xem là một khâu, một yếu tố trong hệ thống. Thông
qua quá trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên.
Cũng qua quá trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên. Do
tiếng gọi của những lợi ích nhất thời nào đó, cũng có thể là do sự hoạch định
thiển cận về mặt chiến lược, trong không ít nền kinh tế đã nảy sinh tình trạng
vô tình hoặc cố ý không tính đến tương lai của chính mình. Người ta khai thác
tài nguyên thiên nhiên một cách tối đa, vay mượn cả tài nguyên của các thế hệ
tương lai, bất chấp quy luật tự nhiên và đạo lý xã hội, gạt sang một bên những
bài toán về môi sinh và những lợi ích chính đáng của thế hệ sau. -Đầu tư nhằm vào
những lĩnh vực sinh lợi nhanh được kêu gọi một cách ồ ạt, đẩy trách nhiệm trả
nợ cho thế hệ kế tiếp. Lợi ích trước mắt được quan tâm quá mức, gây nên tình
trạng phát triển thiếu cân đối hoặc phát triển theo kiểu “bong bóng xà
phòng". Vô tình hay hữu ý, con người càng phá huỷ môi trường sống của
chính mình một cách nghiêm trọng.
Sự suy thoái về môi trường
sinh thái toàn cầu hiện nay được thể hiện rõ nét trong những vấn đề sau:
Trước hết là sự suy thoái
tầng ozon. Tầng ozon là lớp khí (O3) rất dày bao bọc lấy trái đất và có tác
dụng như là một cái đệm bảo vệ trái đất khỏi những tia cực tím của mặt trời
chiếu xuống trái đất. Có thể nói nếu không có tầng ozon thì sự sống trên trái đất
không tồn tại (tầng ozon đã hấp thụ 99% lượng bức xạ tia cực tím của mặt trời
chiếu xuống trái đất). Tầng ozon bị suy thoái sẽ tác động mạnh đến mọi sinh vật
trên trái, làm tăng thêm các bệnh tật, làm giảm khả năng miễn dịch của con
người. Cuối năm 1985 các nhà khoa học Anh đã phát hiện lổ thủng tầng ozon ở Nam
Cực, đến năm 1988 người ta lại phát hiện ra lổ thủng ozon ở Bắc Cực… Nguyên
nhân gây ra sự suy thoái tầng ozon là do các hợp chất cacbon có chứa flo hoặc
brôm. Ước tính hàng năm có khoảng 788.000 tấn CFH3 (Clo-ro Cac-bon) thải vào
môi trường, chất này được sử dụng rộng rãi trong công nghệ đông lạnh và chất
dung môi. Vấn đề suy giảm tầng ozon đã và đang đụng chạm đến một trong những
vấn đề nhức nhối và bức xúc nhất của nhân loại - vấn đề bệnh tật trong điều
kiện xã hội phát triển. Chẳng hạn ung thư vẫn đang được thế giới coi là bệnh
nan y. Sư suy thoái tầng ozon đã làm cho nhiều quốc gia thức tỉnh và lo ngại. Đầu
năm 1987, 27 nước đã ký công ước Viên về việc bảo vệ tầng ozon. Những nước công
nghiệp phát triển nhất đã cam kết giảm dần và tiến đến chấm dứt việc sử dụng,
sản xuất và thải bỏ các chất gây tác hại cho tầng ozon vào năm 2000. Đó thực sự
là một quyết định thông minh và nhân đạo. Song cho đến nay sự giảm độ dày của
tầng ozon vẫn là vấn đề quan tâm và lo lắng của nhân loại. Hậu quả tiêu cực của
hiện tại vẫn chưa thể chấm dứt ngay được.
Thứ hai là hiện tượng
"hiệu ứng nhà kính". Trái đất và khí quyển được xem như là một nhà
kính khổng lồ, trong đó trái đất có nguy cơ bị đốt nóng lên. Nhiệt độ của trái
đất tăng lên được gọi là hiện tượng "hiệu ứng nhà kính". Nguyên nhân
của hiện tượng này là do sử dụng nhiều các nguyên liệu hoá thạch, do sự giảm
sút diện tích rừng xanh …, lượng khí thải độc CO2, CH4, CFC3.. vào thiên
nhiên ngày càng nhiều.
Trong thế kỷ này,
nhiệt độ của trái đất tăng lên từ 0,30C đến 0,70C so với thế kỷ trước. Các nhà khoa học dự
đoán rằng đến năm 2030 nếu lượng khí CO2 tăng lên hai lần thì nhiệt độ tăng từ
1,50C đến 4,50C. Khi nồng độ khí CO2 trong khí quyển tăng lên, một phần nhiệt độ
của trái đất bốc lên gặp khí CO2 sẽ phản chiếu trở lại đốt nóng trái đất. Nhiệt
độ của trái đất tăng lên sẽ làm tan khối lượng khổng lồ ở hai cực và làm cho
mực nước biển dâng lên. Mực nước biển dâng lên là nguy cơ đe doạ rất nhiều quốc
gia và đời sống của hàng triệu dân trên thế giới.
Hiện tượng "hiệu
ứng nhà kính" gắn liền với một hiện tượng ô nhiễm môi trường khác không
kém phần nguy hiểm đó là mưa axít. Trong các chất khí thải vào khí quyển, đặc
biệt có SO2 và NO2 theo hơi nước bốc lên cao, chúng bị oxy hoá và thuỷ phân tạo
thành axít, gặp lạnh mưa xuống đất. Mưa axít có tác hại rất lớn đến các thế hệ
sinh thái nông nghiệp, làm giảm năng suất mùa màng, có nơi còn bị mất trắng,
làm giảm chất lượng cây trồng và vật nuôi, phá hoại nặng nề các cánh rừng ôn đới
phía Bắc bán cầu. Mưa axít còn làm ô nhiễm các đường ống nứoc uống và nước sinh
hoạt của con người và sinh vật, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tính mạng của con
người.
Ngoài ra sự suy thoái
môi trường còn thể hiện ở sự ô nhiễm nguồn nước sạch. Tổng lượng nước trên toàn
cầu là 1.360 triệu km3, trong đó lượng nước ngọt chỉ chiếm trên dưới 3% và con
người chỉ sử dụng được khoảng 1% để phục vụ nhu cầu của xã hội. Thế nhưng 1% đó
đang bị ô nhiễm bởi các chất thải trong sinh hoạt, trong sản xuất… Như các hoá
chất dùng trong công nghiệp, thuốc trừ sâu, phân bón hoá học dùng trong nông
nghiệp…
Trong bản thông điệp
của UNEP nhân ngày Thế giới về nước – ngày 22-3-1996 nhấn mạnh: ô nhiễm nước là
một vấn đề nan giải và rộng khắp. Làm cho nước bị ô nhiễm trở nên sạch là một
nhu cầu cấp bách và thiết thực, là trách nhiệm của mọi người, mọi chế độ xã hội.
Nguyên nhân chính dẫn đến
một loạt sự suy thoái môi trường sinh thái trên, trước hết phải kể đến sự phát
triển của công nghiệp ồ ạt, đặc biệt là các ngành công nghiệp gây ô nhiễm. Mỗi
năm hoạt động sản xuất thải vào không khí 150 triệu tấn khí SO2, 200 triệu tấn
CO2, 350.000 tấn CFC3… (Theo Phạm Thành Dung – Môi trường sinh thái, Tạp chí
giáo dục lý luận số 3-99). Những chất mà những yếu tố khác trong hệ thống,
trong chỉnh thể môi trường sinh thái không thể hấp thụ được, nên đã gây tác hại
đến tầng ozon, đến nguồn nước sạch…
Nguyên nhân thứ hai là
tệ nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Có thể nói rừng
là nước cho đời sống của thực vật và cho sản xuất của xã hội, là không khí
trong lành, rừng là năng suất mùa màng… Rừng đóng vai trò quan trọng như thế,
nhưng hiện nạy rừng trên thé giới đang kêu cứu, cứ mỗi phút trôi qua có tới
21,5 ha rừng nhiệt đới bị phá huỷ. Sự mất mát quá lớn của rừng tất yếu dẫn đến
nghèo kiệt của đất đai và sự biến mất dần những sinh vật quý hiếm, sự tăng hàm
lượng CO2 trong khí quyển - một trong những chất khí quan trọng nhất gây nên
"hiệu ứng nhà kính", làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất…
Một nguyên nhân nữa là
do sự mất cân bằng tài nguyên và dân số. Dân số tăng nhanh đòi hỏi phải khai
thác các tài nguyên tự do nhiều hơn nhịp điệu cao hơn, chất thải các loại tăng
nhanh hơn dẫn tới phá vỡ cân bằng, vắt kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường.
Tình trạng chạy đua vũ
trang, sản xuất các loại vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học cũng là nguyên nhân
vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa tạo khả năng huỷ diệt thiên nhiên thông qua
chiến tranh xung đột.
Đối với Việt Nam, tuy
là một nước nông nghiệp, hơn nữa sự phát triển của xã hộI ta hiện nay vẫn chưa
vượt ra khỏi trình độ của nền văn minh công nghiệp, thế nhưng điều đó không có
nghĩa là không có hiểm hoạ sinh thái đe doạ.
Ở các nước phát triển,
hiểm hoạ sinh thái là do sự phát triển của kỹ thuật công nghệ, do sự phát triển
tự phát của nền văn minh công nghiệp, thì ở Việt Nam, hiểm hoạ sinh thái là do
sự kết hợp giữa phát triển và lạc hậu, do ảnh hưởng còn nặng nề của nếp suy
nghĩ, nếp làm của người sản xuất nhỏ và lối sống công nghiệp còn chưa ổn định,
chưa hoàn thiện.
Thiên nhiên nước ta
trước đây bị phá hoại bởi những cuộc chiến tranh kéo dài, còn bây giờ bị phá
hoại bởi những hoạt động vô ý thức, bởi thái độ tuỳ tiện vô trách nhiệm, thiếu
kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn thiên nhiên. Trước năm 1945,
ở nước ta, rừng bao phủ 43,8% diện tích che phủ còn 28% (tức là dưới mức báo động
30%). Diện tích đất trồng đồi trọc đang bị xói mòn mạnh, lên khoảng 13,4 triệu
ha. Nguyên nhân chính là do du canh du cư, lấy gỗ, củi, mở mang giao thông, xây
dựng thuỷ điện..
Ô nhiễm môi trường
cũng đang là vấn đề nan giải, chất thải công nghiệp, sinh hoạt, chất độc hại
của quá trình sản xuất không được xử lý nghiêm túc mà đưa trực tiếp vào môi
trường, gây bệnh tật và ô nhiễm môi trường sinh thái. Khu công nghiệp Biên Hoà
I hằng ngày xả ra sông Đồng Nai khoảng 20.000m3 nước thải nhiễm bẩn và thải
lượng chất rắn 260-300 tấn/ 1 tháng … Ấy là chưa kể khu công nghiệp Biên Hoà II.
Nồng độ bụi ở đô thị
vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép. Khí thải CO2 vượt tiêu chuẩn cho phép từ
1,5 – 2,5 lần.
Ngoài ra vấn đề khai
thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng, đá quý.. chính thức và tự do cũng đã và đang
làm huỷ hoại môi trường sinh thái. Việc sử dụng mìn khai thác ở nhiều lĩnh vực đang
làm phá sự cân bằng về hệ sinh thái môi trường.
Mặc dù những hành động
vô ý thức đó chưa có sự tham gia tích cực của yếu tố kỹ thuật, do vậy mà sức
tàn phá đối với môi trường chưa đạt mức độ nghiêm trọng như các nước công
nghiệp phát triển, nhưng cũng không phải là không đáng bàn.
Theo kế hoạch quốc gia
về môi trường đánh giá “Việt Nam hiện nay phải đương đầu với những vấn đề môi
trường nghiêm trọng như nạn phá rừng, với mòn đất, việc khai thác quá mức nguồn
tài nguyên ven biển, đe doạ tới các hệ sinh thái và sự cạn kiệt nguồn
gien…" (Việt Nam kế hoạch Quốc gia về phát triển môi trường và phát triển
lâu bền. Xuất bản 1991, tráng7)
Thứ trưởng Bộ khoa học
– Công nghệ môi trường Phạm Khôi Nguyên đã khẳng định tại Hội nghị môi trường
toàn quốc (10/1998) tại Hà Nội: Bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề sống còn
của nhân loại. Mọi quá trình phát triển sẽ trở nên không bền vững nếu như chúng
ta không quan tâm đến bảo vệ môi trường.
Như vậy rõ ràng vấn đềbảo vệ môi trường này không còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà là vấn đề
của toàn nhân loại. Mặc dù vấn đề này đã được cảnh tỉnh trước đó rất lâu, từ ngày
5-6-1972 tại Stockhom (Thuỵ Điển), các nhà khoa học và đại diện chính phủ nhiều
nước đã họp Hội nghị môi trường thế giới lần đầu tiên để nhắc nhở “Con người hãy
cứu lấy cái nôi của chúng ta" và coi ngày 5-6 hàng năm là ngay môi trường
thế giới. Sau đó 6-1992 tại Braxin, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường thế giới
diễn ra với tham dự của hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, một lần nữa khẳng định
tình trạng suy thoái môi trường nghiêm trọng, kêu gọi mọi quốc gia hãy hợp tác
hiệp lực có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Thế nhưng cho đến hôm
nay, tình trạng vẫn không được cải thiện đáng kể là bao, và vấn đề ô nhiễm môi
trường vẫn là vấn đề nóng bỏng của mỗi quốc gia.
Rõ ràng đây là vấn đề
rộng lớn mang tính thời đại để giải quyết tốt được nó, trong phạm vi chỉ vài
trang giấy không thể đưa ra được những biện pháp cụ thể đầy đủ. Ở đây tác giả
chỉ đưa ra những định hướng cơ bản bước đầu, góp phần vào nhiệm vụ chung của
mọi người là gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và môi trường sống.
- Trước hết để làm
tốt công tác bảo vệ môi trường sống, chúng ta cần phải thay đổi nhận thức – xây
dựng ý thức sinh thái.
Tức là làm cho mọi
người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Con người cần phải nhận thức lại vị trí vai trò của mình và xã hội trong hệ
thống tự nhiên – con người – xã hội.
Trước vũ trụ mênh
mông, con người trở nên nhỏ bé, không còn chuyện chiếm lĩnh tự nhiên bằng mọi
giá mà phải hành động theo quy luật. Sự vi phạm quy luật tự nhiên, trước hết sẽ
gây tổn thương cho tự nhiên, điều này còn có thể cứu vãn, nhưng một khi sự vi
phạm đó ảnh hưởng đến vận mệnh của con người thì sự nguy hiểm khó lường hậu quả.
Ăngghen đã từng nhắc
nhỏ chúng ta rằng: Không nên quá khoái chí về những thắng lợi của chúng ta đối
với giới tự nhiên, bởi vì sự thật nhắc nhở chúng ta hoàn toàn không thống trị
giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người
sống bên ngoài thế giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với
tự nhiên bao hàm ở chỗ là chúng ta khác tất cả các sinh vật khác, biết nhận
thức được những quy luật của giới tự nhiên và sử dụng những quy luật đó một
cách đúng đắn. (Mác Angghen toàn tập, tập 20, trang 655. Nxb CTQG Hà NộI 1994).
Cần phải nhận thức lại
một cách nghiêm túc và sâu sắc rằng con người và xã hội dù có phát triển đến
đâu, đến mức cao như thế nào đi chăng nữa, thì cũng chỉ là một bộ phận của sinh
quyển, là những yếu tố trong hệ thống Tự nhiên – Con người – Xã hội, các yếu tố
trong hệ thống có mối quan hệ khăng khít và tác động phụ thuộc lẫn nhau. Con
người xã hội dù có sức mạnh nhưng hành động của họ cũng không thể vượt ra ngoài
hệ thống mà con người phải biết vận dụng thế mạnh của mình - dạng vật chất duy
nhất có ý thức, do đó chỉ có con người mới có khả năng điều khiển một cách có ý
thức mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Thông qua quá trình phát triển
khoa học kỹ thuật và công nghệ con người dân dần nắm bắt được các quy luật của
tự nhiên và tìm cách vận dụng một cách hợp lý các quy luật đó vào hoạt động
thực tiễn của xã hội, để tạo cơ sở tự nhiên bền vững cho sự phát triển xã hội.
- Thứ hai, cần
phải kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ở Việt Nam, đã một
thời do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, chúng ta chưa nhận thức đầu đủ ý
nghĩa vị trí tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường sinh thái. Tình trạng
tách rời công tác này với sự phát triển kinh tế - xã hội xảy ra phổ biến ở nhiều
ngành, nhiều cấp. Ý thức sinh thái học chủ yếu mới nằm trong đầu các nhà khoa
học, các nhà quản lý … chứ chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn xã hội
(Mặc dù gần đây đã có luật bảo vệ môi trường). Đối với tình hình nước ta muốn tăng
trưởng kinh tế không có con đường nào khác là phải tiến hành công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được
Đảng ta khẳng định: Bảo đảm sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của kinh tế và gắn
với việc xử lý tốt các vấn đề công bằng xã hội và tiến bộ xã hội, môi trường và
sinh thái.
Nghị quyết Trung ương
khoá VIII cũng khẳng định: “Phát triển khoa học công nghệ gắn liền với bảo vệ và
cảI thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và
bền vững" (Trang 60).
Rút kinh nghiệm của
những nước đi trước, chúng ta thấy rằng tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan
trọng bậc nhất của sự phát triển xã hội, song đó không phải là mục tiêu duy
nhất và càng không phải là tất cả. Những gì được gọi là thành tựu trong gần 300
năm qua do khoa học và công nghệ đem lại cũng đồng thời kèm theo những tổn thất
to lớn cho môi trường tự nhiên như: lổ thủng ozon, hiệu ứng nhà kính, mưa axít,
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên… Tất cả chỉ khẳng định rõ thêm rằng con người
không thể sống thiếu khoa học và công nghệ, cần cả các tài nguyên thiên nhiên để
tồn tại và phát triển xã hội, nhưng đồng thời cũng rất cần một môi trường sống
trong sạch lành mạnh, bởi vì bản chất con người là một thực thê sinh học – xã
hội. Một bài học xương máu rút ra từ quá trình công nghiệp hoá vừa qua là không
thể tách mục tiêu kinh tế, đó là một tất yếu khách quan nếu muốn phát triển lâu
bền.
Đối với nước ta hiện
nay, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết phải đổi mới công
nghệ để tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Đổi mới công nghệ bằng hai
con đường: chuyển giao công nghệ và tự tiếp thu công nghiệp hiện đại – công
nghệ có hàm lượng chất xám cao và công nghệ sạch, từ đó chúng ta mới có thể
thực hiện được công nghiệp hoá hiện đại hoá rút ngắn, đồng thời đó cũng chính là
phương thức thực hiện hữu hiệu nhất để kết hợp các mục tiêu kinh tế và sinh
thái. Kiên quyết không nhập công nghệ gây ô nhiễm môi trường sinh thái với bất
kỳ điều kiện nào. Phát triển kinh tế trên sự huỷ hoại môi trường cũng đồng nghĩa
với sự kết án tương lai của mình. Do vậy mục tiêu chuyển giao công nghệ phải
làm sao vừa đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo vấn đề môi
trường sinh thái.
-Thứ ba, nên sản
xuất xã hội cần phải thực hiện thêm chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên
thiên nhiên.
Trong một thời gian
dài chúng ta đã tiêu xài quá phung phí một nguồn vốn - nguồn tài nguyên thiên
nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được (các
nguyên, nhiên liệu hoá thạch). Các nguồn tài nguyên là một loại vốn không thể
thay thế được, con người chỉ tìm ra chúng và sử dụng chúng một cách ồ ạt, lãng
phí, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường. Nền sản xuất
xã hội chưa quan tâm đúng mức đến hiệu quả của tài nguyên thiên nhiên, từ khâu
khai thác chế biến, cũng như đến các chất thải bỏ, các quá trình sản xuất phần
lớn chưa đáp ứng được yêu cầu sinh thái, đã thải ra quá nhiều chất độc hại cho
môi trường.
Để tránh tình trạng
trên, nền sản xuất sản xuất cần phải thực hiện thêm chức năng tái sản xuất các
nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cụ thể là phải thay thế phương thức sử dụng các nguồn
tài nguồn thiên nhiên từ bề rộng sang bề sâu, cố gắng sử dụng tối đa các tính
năng vốn có của nó để sao cho khi thảI ra khỏi quá trình sản xuất, những chất
thải đó, các sinh vật khác có thể sử dụng được, môi trường có thể tiếp nhận
được và xử lý được như những chất thải của các sinh vật tự nhiên khác. Nói cách
khác là thực hiện phương pháp chu trình công nghệ khép kín, nghĩa là đưa các
chất thải của sản xuất vào lĩnh vực tiêu dùng của sản xuất, tăng cường cái gọi
là "công nghệ khô", khử các chất độc hại bằng sinh học.
Tóm lại, các nhân tố
kinh tế, con người, môi trường, công nghệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Chỉ có sự
thực hiện đồng bộ các nhân tố đó mới tạo ra được sự tiến bộ thật sự của xã hội.
Ở đây, con người với tư cách là chủ thể của lao động và trí tuệ là nhân tố giữ
vai trò quyết định cho sự phát triển lâu bền.
Trên đây chỉ là một
vài định hướng bước đầu, nhằm cải tạo tốt hơn môi trường sống của con người và
xã hội trong bối cảnh hiện nay. Cũng là bước mở đầu cho sự phát triển xã hội
bền vững trong tương lai.