DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG MỚI VÀ CẢI TẠO
KHU LÀM VIỆC TỈNH ỦY TỈNH VĨNH PHÚC
I- Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư
1. Những căn cứ pháp lý:
- Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ.
- Nghị
định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ
sung một số điều của “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm
theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP.
- Căn
cứ Quyết định số 147/1999/ QĐ-TTg ngày 5 tháng 7 năm 1999 của thủ tướng
Chính phủ quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại
cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.
- Căn cứ
công văn số 1598/BHK - CSHT ngày 16 tháng 3 năm 1999 của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư hướng dẫn thêm về việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc.
- Căn
cứ vào thông báo số 288-KL/ Tu ngày 26/08/2002 của thường vụ Tỉnh uỷ
Tỉnh Vĩnh Phúc về việc chuẩn bị đầu tư xây dựng khu làm việc Tỉnh uỷ
Vĩnh Phúc.
- Căn cứ
vào yêu cầu nhiệm vụ thiết kế khu làm việc Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh
Phúc do Văn phòng Tỉnh uỷ lập ngày ..... tháng..... năm 2002.
- Căn cứ
vào bản tổng hợp về biên chế , số lượng và dự kiến biên chế thời
gian tới của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ lập ngày 3 tháng 9 năm 2002.
- Căn cứ vào báo cáo chi tiết tài sản cố định của đv hành chính sự nghiệp do các Ban Đảng và Văn phòng Tỉnh uỷ lập năm 2000.
- Căn
cứ vào bản đồ đo đạc hiện trạng tỷ lệ 1/500 khu làm việc Tỉnh uỷ tỉnh
Vĩnh Phúc do Công ty tư vấn thiết kế đầu tư và thiết kế xây dựng lập.
- Căn cứ
vào Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu làm việc Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc
được UBND tỉnh Vĩnh Phúc duyệt ngày..... tháng ..... năm 2002
- Căn
cứ vào báo cáo địa chất khu làm việc Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc do Công ty
tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng - Tổng Công ty xây dựng Hà Nội lập
tháng 10 năm 2002.
- Căn cứ tiêu chuẩn thiết kế TCVN 4601-1988 và các quy chuẩn, quy phạm về xây dựng cơ bản của Nhà nước hiện hành.
2. Sự cần thiết phải đầu tư:
Thực
hiện Nghị quyết kỳ họp thứ IX Quốc hội khoá IX Nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam về việc tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai Tỉnh Vĩnh Phúc
và Phú Thọ.
Tỉnh
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng Châu thổ sông Hồng thuộc miền
Bắc Việt Nam . Tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh Yên, cách trung tâm Hà Nội 50km
và sân bay quốc tế Nội Bài 30 km về phía Tây Bắc. Vĩnh Phúc là cửa ngõ
của thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng -
Quảng Ninh, là khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng sông Hồng với
các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Tỉnh có 3 vùng sinh thái: Đồng
bằng, trung du và miền núi, diện tích tự nhiên là 1.370 km2. Dân số 1,12 triệu người, trong đó 22,5% dân số cư trú ở miền núi, mật độ dân số trung bình trên 800 người/ km2, một số huyện bình quân 1.250 người/km2, bình quân đất canh tác 400m2 /người, vùng đồng bằng chiếm 34,4% còn lại trung du và miền núi. Vĩnh
Phúc có 7 huyện thị, 150 xã, phường, thị trấn, trong đó có một huyện và
39 xã miền núi, gần 90% dân số sống bằng nghề nông, là một tỉnh mới
tái lập cho nên hạ tầng kinh tế xã hội nhiều mặt thấp kém.
Tỉnh
Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ, đường sắt và
đường sông. Hệ thỗng đường bộ đến tất cả các vùng kinh tế trọng điểm và
các xã trong tỉnh, quốc lộ 2 từ 5 tỉnh miền núi phía Bắc chạy dọc qua
sân bay quốc tế Nội Bài về Hà Nội nối với quốc lộ 5 đi Hải Phòng, quốc
lộ 18 đi cảng Cái Lân (Quảng Ninh). Đường sắt Hà Nội - Lào Cai đi Vân
Nam (Trung Quốc) chạy dọc tỉnh, nối đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội
- Lạng Sơn, Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống đường sông từ
các cảng Chu Phan, Vĩnh Thịnh bên sông Hồng, đảm bảo cho các tàu có
trọng tải từ 500 đến 1000 tấn đi Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.
Đảng bộ
Vĩnh Phúc có 510 tổ chức cơ sở Đảng với tổng số trên 41 ngàn Đảng
viên, Nhân dân có truyền thống cách mạng, với nguồn lao động dồi dào,
cần cù, sáng tạo, thích ứng với cơ chế thị trường. Trong những năm qua
từ ngày tái lập tỉnh đến nay, dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh, các cấp uỷ Đảng, kinh tế của tỉnh đạt được nhịp độ tăng trưởng
cao, nhất là công nghiệp xây dựng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng
hướng, tỷ trọng công nghiệp tăng mạnh, đã chuyển nền kinh tế từ thuần
nông sang cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ và công nghiệp. Năm 2001
là năm đầu tiên thực hiện nghị quiyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
và nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, trong điều kiện kinh
tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các chỉ tiêu của Tỉnh vẫn đạt
được và vượt các mục tiêu đề ra. Tổng sản phẩm nội Tỉnh (GDP) tăng
11,36%, tổng giá trị sản xuất ( GO ) tính theo giá cố định năm 1994 đạt
9.364 tỷ đồng gấp 4 lần so với trước khi tái lập tỉnh, đặc biệt là
công nghiệp xây dựng đạt 6.536 tỷ đồng, xếp thứ 7 trong cả nước và gấp
11,4 lần năm 1996, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch nhanh và đúng
hướng, đã hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp
. Năm 1996 công nghiệp xây dựng chiếm 12,9%, dịch vụ chiếm 34% và nông
nghiệp chiếm 52,5%, năm 2001 công nghiệp xây dựng chiếm chiếm 40,7%,
dịch vụ chiếm 32,4% và nông nghiệp chiếm 26,9%. Kim ngạch xuất khẩu
trên địa bàn tăng khá năm 2001 đạt 26,8 triệu USD tăng 23,2% so với năm
2000 và gấp 6 lần năm 1996. Thu ngân sách trên địa bàn năm 2001 đạt
856,2 tỷ đồng, vượt dự toán, tăng gần 24% so với năm 2000 và gấp 8 lần
so với năm tái lập tỉnh. Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều tài nguyên du lịch hấp
dẫn, đa dạng (hồ Đại Lải, núi Tam Đảo, các di tích danh lam thắng
cảnh), thu hút được nhiều khách du lịch trong và0 ngoài nước tạo nên
thị trường hấp dẫn và có điều kiện xuất khẩu tại chỗ, với tiềm năng và
lợi thế của tỉnh, nếu được khai thác tốt sẽ có khả năng thu hút các
thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn, đẩy nhanh
nhịp độ phát triển kinh tế của tỉnh nhà. Tạo ra vành đai cung cấp
lương thực, thực phẩm và các dịch vụ khác cho thành phố Hà Nội, xã hội
văn minh tiến bộ, quốc phòng an ninh vững chắc sẽ là môi trường thuận
lợi để bảo vệ an ninh quốc phòng của Thủ đô.
Sau
ngày tái lập tỉnh Vĩnh Phúc, Trụ sở chính quyền các cơ quan ban ngành
của tỉnh cơ bản được xây dựng mới, hoàn thiện và đi vào sử dụng, trong
khi đó, Tỉnh uỷ tiếp nhận lại khu điều dưỡng cán bộ cách mạng lão thành
Trung ương làm trụ sở của tỉnh uỷ, các nhà làm việc chủ yếu là nhà cấp 4
được xây dựng từ năm 1960 đã hết niên hạn sử dụng. Trải qua hơn 40 năm
sử dụng, qua các tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phú nay là tỉnh Vĩnh Phúc,
do ảnh hưởng của chiến tranh, thời tiết và khí hậu nên côgn trình đã
xuống cấp nghiêm trọng như nhà bị lún, tường nứt, lớp trát bị bong bật,
mái bị dột. Hệ thống kỹ thuật như điện nước đã bị hư hỏng, xuống cấp
không phù hợp với điều kiện sử dụng hiện tại. Mặt khác, các công trình
làm việc trong khu tỉnh uỷ không tập trung, nhà làm việc của các ban
Đảng như: Ban tổ chức, Ban tuyên giáo, Ban dân vận. Khối văn phòng nằm
xa nhau, do đó vấn đề liên hệ giữa các ban Đảng gặp nhiều khó khăn.
Phòng làm việc cho các cán bộ công nhân viên trong các cơ quan Đảng,
Văn phòng Tỉnh uỷ, phòng họp tỉnh uỷ bị thiếu diện tích không phù hợp
với tiêu chuẩn hiện tại, trong khi đó nhu cầu trang thiết bị phục vụ
nhu cầu làm việc ngày càng hiện đại đòi hỏi diện tích để thiết bị. Mặc
dù đã qua nhiều lần cải tạo nhưng vẫn mang tính chắp vá, không đồng bộ,
hiệu suất sử dụng thấp, nhìn tổng thể các công trình trên không tương
xứng và đáp ứng được yêu cầu sử dụng của một trụ sở Tỉnh uỷ.
Hiện
tại, nhu cầu xây dựng trụ sở của các cơ quan ban ngành của các tỉnh đặc
biệt các tỉnh mới tái, thành lập là rất cần thiết. Chính phủ đã có
chủ trương kết hợp cả nguồn vốn ngân sách và nếu thiếu sử dụng thêm vốn
vay ngân hàng, đầu tư hoàn thành việc xây dựng trụ sở vào năm 2003.
Trong thời gian từ năm 1996 đến nay nhiều tỉnh mới tái như: Bắc Ninh ,
Nam Hà, Ninh Bình , Nam Định...đã được Nhà nước đầu tư xây dựng trụ sở
HĐND - UBND, trụ sở Tỉnh uỷ mới khang trang đáp ứng yêu cầu làm việc của
cơ quan lãnh đạo trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và
hội nhập quốc tế, đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu từ nông
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ của tỉnh nhà.
Do đó
việc đầu tư xây dựng trụ sở Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là cần thiết, phù hợp với
định hướng cải cách hành chính. Đảm bảo điều kiện làm việc an
toàn ổn định, lâu dài của cơ quan lãnh đạo Tỉnh.
II- Lựa chọn hình thức đầu tư:
Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ
thiết kế, quy mô đầu tư, tính chất công năng sử dụng và quy hoạch chi
tiết được duyệt, căn cứ vào báo cáo chi tiết tài sản cố định của Ban tổ
chức Tỉnh uỷ, hiện trạng các công trình trong khu làm việc của Tỉnh uỷ,
quy hoạch khu làm việc tỉnh uỷ bao gồm 3 khu chức năng chính: khu vực
nhà khách, nhà ăn, sân thẻ thao. Trong đó trụ sở chính phải đáp ứng
được quy mô và yêu cầu là một trụ sở cơ quan lãnh đạo Tỉnh Vĩnh Phúc,
các hạng mục: Nhà công vụ, nhà ăn, nhà khách, sân thể thao được đầu tư
xây dựng sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng cần thiết của tỉnh uỷ. Các
công trình trên phải thể hiện được sự trang nghiêm, đạt được tính thẩm
mỹ cao, có kiến trúc phù hợp với cảnh quan xung quanh. Khu vực nhà lưu
niệm là nơi trưng bày truyền thống cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân
tỉnh Vĩnh Phúc, hiện tại là nhà làm việc và phòng họp của thường vụ,
nơi đây đã vinh dự đón Bác Hồ về thăm, công trình nằm trên đồi cao có
nhiều cây cổ thụ với kiến trúc cổ phù hợp với công trình lưu niệm, do
đó nên giữ lại và cải tạo làm nhà lưu niệm của khu tỉnh uỷ. Như vậy
hình thức đầu tư được lựa chọn là đầu tư xây dựng mới Trụ sở làm viẹc.
Nhà khách, nhà công vụ kết hợp với cải tạo một số công trình cũ thành
khu làm việc của Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là hình thức đầu tư hợp lý
nhất, đáp ứng các vấn đề đặt ra.
III- Địa điểm xây dựng:
1. Vị trí địa lý của công trình:
Việc
lựa chọn địa điểm xây dựng khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là rất quan
trọng, địa điểm được chọn phải đáp ứng với yêu cầu về giao thông, môi
trường, cảnh quan và phù hợp với quy hoạch chung của khu vực. Sau khi có
chủ trương đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của tỉnh uỷ, thường vụ tỉnh
uỷ đã lập Ba chỉ đạo xây dựng và tổ tư vấn để phối hợp với các cơ quan
có liên quan tiến hành khảo sát quỹ đất có khả năng xây dựng công
trình thuộc thị xã Vĩnh Yên. Các vị trí đã được xem xét cụ thể nhưng có
nhiều yếu tố bất lợi như: giải quyết công tác đền bù, giải phóng mặt
bằng khó khăn chi phí lớn và mất nhiều thời gian, căn cứ vào quy mô xây
dựng công trình và cân nhắc các yếu tố nêu trên. Ngày 22/8/2002 Ban
thường vụ tỉnh uỷ là khu đang làm việc hiện nay (Toàn bộ diện tích
khoảng trên 5ha). Trong quy hoạch thiết kế bảo đảm tính bền vững, đẹp
nhưng tiện lợi, xây dựng cơ bản giữ được địa hình, hiện trạng, mặt bằng
hạn chế đến mức thấp nhất san lấp, cải tạo mặt bằng, đường, giao
thông, bảo vệ cây xanh, giữ được cảnh quan môi trường.
Vị trí khu đất được chọn tại phường Ngô Quyền - thị xã Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Phía Đông Bắc giáp: Quốc lộ 2
+ Phía Đông Nam giáp: Đường nhánh khu vực
+ Cá phía còn lại giáp: Đầm Vạc.
2. Đặc điểm tự nhiên:
Vị trí
khu đất thuộc phường Ngô Quyền, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đặc
điểm địa hình tự nhiên là khu vực trung du có độ dốc trung bình xen kẽ
gò đồi thấp có cao độ trung bình + 15m so với mực nước biển, trong đó
chỗ thấo nhất + 5.3 (dải biên giáp đầm Vạc) và chỗ cao nhất + 25.2 (khu
vực đỉnh đồi). Toàn bộ khu đất được bao phủ bởi hệ thống xây xanh lâu
năm tương đối dày đặc, các công trình hiện có trên đó hầu hết là các nhà
cấp 4 được xây dựng từ những năm 1960 và một số công trình 2 đến 3
tầng đã quá niên hạn sử dụng, phân bố rải rác trong toàn bộ khu vực. Hệ
thống sân đường cơ bản đã được láng xi măng, rải nhựa và có độ dốc
thay đổi theo địa hình, một số khu vực không có sự liên kết trực tiếp
bằng giao thông cơ giới mà phải sử dụng hệ thống bậc tam cấp xây gạch.
3. Đặc điểm khí hậu:
Nằm trong vùng khí hậu chung của vùng trung du Bắc Bộ với khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm gió mùa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20C, số giờ nắng 1340 - 1800 giờ/năm.
Độ ẩm không khí trung bình năm là 54 - 85%.
4. Đặc điểm địa chất, thuỷ văn:
Là khu
vực có nền đất được cấu tạo chủ yêuí bằng các lớp nghèo nước ngầm, trữ
lượng không lớn với thành phần không đồng nhất bao gồm các lớp đất đá
lấp, cát sét pha và các lớp đá phong hoá có độ lèn chạt đến rất chặt,
khả năng chịu tải từ 1,65 đến 2,2kg/cm2. Mực nước ngầm nằm khá nông và ổn định có độ sâu từ 1,9 đến 2,1m.
Cấu tạo các lớp địa chất như sau:
Lớp 1:
Là lớp đất đắp, thành phần không đồng nhất gồm: đát đá lấp, cát pha,
sét pha, dăm sạn, gạch vỡ vụn màu nâu, nâu xám, vàng sẫm, rời.
Lớp 2:
Là lớp sét pha lẫn dăm sạn, màu hồng, nâu hồng, vàng sẫm, xám vàng, xám
xanh, nâu đỏ, đỏ, loang lổ. Trạng thái nửa cứng đến cứng, áp lực tính
toán quy ước RO = 1.65kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 83.5 kg/cm2.
Lớp 3:
Là lớp sét pha lẫn ít sạn, màu hồng, nâu hồng, vàng sẫm, xám vàng, xám
xanh, nâu đỏ, loang lổ, xen kẹp các lớp màu hồng. Trạng thái nửa cứng
đến cứng, áp lực tính toán quy ước K0 = 2.26kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 83.5kg/cm2.
Lớp 4:
Là lớp sét cứng pha lẫn ít dăm sạn, màu vàng, nâu vàng, nâu gụ, xám
trắng, xám chì, xám xanh, loang lổ. Trạng thái cứng, áp lực tính toán
quyước R0 = 2.02kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 204.0kg/cm2.
Lớp 5:
Là lớp đá phong hoá thành sỏi sạn lẫn cát màu xám xanh, xám đen, xám
trắng, xen kẹp các lớp đá phong hoá màu vàng sẫm. Trạng thái chặt đến
rất chặt.
5. Đặc điểm hiện trạng các công trình:
Hiện
trạng khu Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc có 21 công trình nhà làm việc, chủ yếu là
nhà cấp 4 được xây dựng từ năm1960, đã hết niên hạn sử dụng cụ thể như
sau:
- 01 nhà làm việc của Ban tổ chức có diện tích 1430m2, 3 tầng khung, sàn BTCT.
- 01 nhà để xe ô tô có diện tích 400m2, nhà cấp 4, mái lợp Pro xi măng.
- 02 nhà ở tập thể có diện tích 275m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lớp pro xi măng.
- 01 nhà ở tập thể có diện tích 380m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp ngói.
- 01 nhà bếp ăn, có diện tích 200m2, nhà cấp 3, khung, sàn BTCT 2 tầng.
- 01 ga ra xe đạp, xe máy có diện tích 100m2, với kết cấu thép chịu lực, mái lập tôn.
- 01 nhà làm việc của Chánh văn phòng, có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.
- 01 nhà làm việc của Văn phòng, có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.
- 01 nhà làm việc của Kế toán, tài chính có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.
- 01 nhà ngân sách, có diện tích 195m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.
- 01 Nhà làm việc của Ban thường vụ có diện tích 390m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp ngói.
- 01 nhà họp của ban ban tổ chức có diện tích 180m2 nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập ngói.
- 01 Nhà làm việc của Ban dân vận có diện tích 120m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.
- 01 Nhà làm việc của Bí thư có diện tích 105m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập ngói.
- 01 nhà canh vệ có diện tích 190m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.
- 01 nhà nội chính có diện tích 230m2, nhà 2 tầng, khung, sàn BTCT, mái lợp tôn.
- 01 nhà làm việc Ban tuyên giáo, Ban kiểm tra có diện tích 1150m2, nhà 2 tầng, khung, sàn BTCT, mái đổ BTCT.
- 01 ga ra - 01 ga ra có diện tích 70m2, nhà cấp 4, tường gạch dày 220, mái đổ BTCT.
- 01 nhà chơi bóng bàn có diện tích 52m2, nhà cấp 4, kết cấu thép chịu lực, mái lợp tôn.
Các
công trình trên hiện tại đã bị xuống cấp nghiêm trọng, tường nhà bị
nứt, gây ra hiện tượng thấm, các lớp trát bị bong rộp, các nhà mái lợp
bằng ngói hoặc tôn bị dột, hệ thống trần không sử dụng được. Hệ thống
cung cấp điện và thiết bị điện trong các công trình lạc hậu, không đảm
bảo an toàn khi sử dụng. Hệ thống cấp, thoát nước được thiết kế đơn giản
không đáp ứng yêu cầu sử dụng, các đường ống thoát nước thải đổ trực
tiếp ra Đầm vạc mà không qua sử lý. Thiết bị vệ sinh lạc hậu, hư hỏng
nhiều.
6. Hiện trạng phần cấp,thoát nước:
Phần cấp nước:
Khu làm
việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đang dùng nguồn nước của thị xã Vĩnh Yên. Trong
khu vực hiện đã có một số tuyến ống D400 cấp nước cho khu vực này.
Hình thức nước bằng hệ thống bể ngầm, trạm bơm, đài nước tăng áp nước
cho toàn khu, với hệ thống này, giải pháp vận hàng cung cấp nước tương
đối phức tạp.
Phần thoát nước:
Hệ
thống thoát nước bẩn của khu vực nghiên cứu mang tính chất bột phát,
chưa có quy hoạch cụ thể cho phù hợp với quy hoạch mới của khu làm việc
Tỉnh uỷ cũng như quy hoạch về thoát nước cho toàn thị xã.
7. Hiện trạng phần cấp điện:
Toàn
bộ hệ thống điệncủa các hạng mục trong khu làm việc Tỉnh uỷ được cung
cấp bằng trạm biến áp với công suất máy biến thế 1000KVA, điện áp 22 -
10/0,4KV, nguồn cao thế cấp điện cho trạm biến thế được lấy từ lưới
điện quốc gia 35KV. Hệ thống cáp điện dùng cho khu làm việc tỉnh uỷ
được thiết kế đi nổi, đường dây đã bị xuống cấp, độ an toàn không cao.
Trung tâm phân phối Dự Án www.xaydungduan.com
158 Nguyễn Văn Thủ, PDakao, Q1, HCM
www.xaydungduan.com
0903 034 381